Thời gian làm việc | Thứ 2 đến Thứ 6 : 16h00 - 19h30 | Thứ 7 : 7h00 - 11h00.

0988 752 725
Phòng khám tim mạch và siêu âm tim mạch

Phòng khám chuyên khoa

Tim mạch & siêu âm tim mạch

Hình ảnh

14/10/2014: NHỒI MÁU CƠ TIM ST CHÊNH

  • 08/12/2020
  • 1. Định nghĩa :

    Nhồi máu cơ tim ST chênh (NMCT STc) là hội chứng lâm sàng đặc trưng bởi triệu chứng của nhồi máu cơ tim (NMCT) kết hợp với sự chênh ST liên tục trên điện tâm đồ và sau đó là sự xuất hiện của các dấu ấn sinh học của hoại tử cơ tim.

    Chẩn đoán ST chênh khi không có bệnh cảnh dày thất trái hay block phân nhánh trái là khi xuất hiện sóng mới ST chênh cao tại điểm J hơn 2 mm ở nam và hơn 1.5 mm ở nữ tại ít nhất 2 chuyển đạo liên tiếp. Chuyển đạo V2 hay V3 chỉ cần lớn hơn 1 mm kèm với 1 chuyển đạo ngực khác hay chuyển đạo chi.   

    2. Dịch tể:

    Năm 2009, tại Hoa kỳ có 683 000 bệnh nhân xuất viện với chẩn đoán hội chứng mạch vành cấp. Trong đó tỷ lệ NMCT STc nhập viện  chiếm tỷ lệ 25-40%, tỷ lệ này ngày càng giảm trong thập kỷ qua , ngược lại NMCT ST không chênh tỷ lệ ngày càng tăng.

    Khoảng 30% bệnh nhân NMCT STc là nữ. Phụ nữ là một yếu tố tiên lượng thất bại trong điều trị tái tưới máu vì: nhập viện trể, chậm được can thiệp tiêu sợi huyết hay nong mạch vành, ít nhận được điều trị bằng aspirin hay ức chế beta.

    Khoảng 23% bệnh nhân NMCT STc tại Hoa kỳ có bệnh tiểu đường, và khoảng ¾ số bệnh nhân tiểu đường tử vong có liên quan đến bệnh động mạch vành. Tiểu đường làm tăng tỷ lệ tử vong trong ngắn hạn và dài hạn của NMCT STc. Sự tái tưới máu cơ tim của bệnh nhân tiểu đường cũng không tốt sau khi đã phục hồi dòng chảy động mạch vành.

    Bệnh nhân lớn tuổi ngày càng gia tăng trong dân số, gây nên thử thách và khó khăn trong chẩn đoán và điều trị như chậm trể trong chẩn đoán, điều trị không tương đồng. Bên cạnh đó là những nguy cơ cao khi áp dụng can thiệp hay dùng thuốc ly giải huyết khối trên cơ thể nhiều bệnh đi kèm, yếu kém.

    3. Chẩn đoán

    3.1. Bệnh sử:

    Khai thác tiền sử thiếu máu cơ tim trước đây như cơn đau thắt ngực ổn định hay không ổn định, NMCT, phẫu thuật bắc cầu chủ vành hay can thiệp mạch vành qua da

    Yếu tố nguy cơ tim mạch : tuổi, giới tính, tăng huyết áp, đái tháo đường

    Các triệu chứng cơ năng như dấu hiệu khó chịu ở ngực: chèn ép thắt nghẹt, nóng rát... xuất phát sau xương ức nhưng có thể lan lên vùng cổ, hàm , liên bả vai, chi trên hay thượng vị. Thời gian đau điển hình có thể kéo dài hơn 30 phút nhưng có thể có cơn tăng hoặc giảm.

    Bệnh nhân tiểu đường có thể có triệu chứng đau ngực không điển hình vì bị tổn thương hệ  thần kinh tự động nên chỉ biểu hiện khó thở, buồn nôn, mệt, toát mồ hôi.

    Cơn đau thắt ngực cần phân biệt với đau ngực do phình bóc tách động mạch chủ, viêm loét dạ dày, viêm màng ngoài tim cấp, thuyên tắc mạch phổi, nhiễm trùng đường mật, viêm tụy cấp

    3.2.  Khám thực thể:

    Đánh giá vị trí, mức độ và sự xuất hiện các biến chứng có thể xảy ra. Đặc biệt chú ý đến : dấu hiệu sinh tồn, tĩnh mạch cổ nổi, ran ở phổi, tiếng tim. Tìm các dấu hiệu khác để phân biệt các bệnh khác cũng gây đau ngực.

    3.3.  Điện tâm đồ:

    Điện tâm đồ 12 chuyển đạo nên được thực hiện ngay trong vòng 10 phút cho những bệnh nhân có triệu chứng đau ngực hay nghi ngờ NMCT.

    Nếu điện tâm đồ lần đầu chưa giúp chẩn đoán, nhưng bệnh nhân vẫn còn triệu chứng hay vẫn nghi ngờ thì phải thực hiện lại mỗi 5 – 10 phút hoặc theo dõi ECG liên tục để đánh giá thay đổi ST.

    Bệnh nhân NMCT thành dưới phải ghi thêm chuyển đạo bên phải để đánh giá NMCT thất phải.

    Tỷ lệ tử vong thường liên quan đến số chuyển đạo có đoạn ST chênh lên. Blốc nhánh trái hoàn toàn và NMCT thành trước là 2 yếu tố tiên đoán nguy cơ tử vong.  Nên đo ECG liên tục ở phòng cấp cứu để phát hiện các rối loạn nhịp thất trầm trọng có thể xảy ra đột ngột.

    3.4. Các dấu ấn sinh học:

    Các dấu ân sinh học có giá trị để ước lượng kích thước vùng nhồi máu và tiên lượng bệnh. CK-MB có trong cơ và trong máu người bình thường. Troponin I và T thì chỉ có trong tổ chức cơ tim và không có trong máu người bình thường, do vậy troponin rất đặc hiệu để chẩn đoán bệnh nhân đau ngực không ổn định  NMCT không có ST chênh lên. Ngược lại NMCT cấp có ST chênh lên sẽ được chẩn đoán trên ECG.

    Troponin đặc hiệu cho tim nên được kiểm tra để chẩn đoán NMCT cấp. Tuy nhiên với bệnh nhân có triệu chứng NMCT cấp và có thêm đoạn ST chênh trên ECG thì nên thực hiện hiện các biên pháp tái tưới máu ngay mà không cần chờ kết quả men tim.

    Troponin I và T, CK-MB tăng lên trước 6 giờ sau khi khởi phát cơn đau ngực.

    Các dấu ấn sinh học  cũng có thể dùng để khảo sát sự tái tưới máu của động mạch vành (ĐMV) gây nhồi máu sau khi dùng thuốc tiêu sợi huyết. CK-MB dùng để chẩn đoán tái NMCT hoặc kết quả tái tưới máu cơ tim hơn là chẩn đoán NMCT. Sự tái tăng lên của dấu ấn sinh học là biểu hiện của tái NMCT, ngược lại bệnh nhân giảm triệu chứng đau ngực, ST đỡ chênh trên ECG, theo dõi các dấu ân sinh học giúp bác sĩ chẩn đoán thành công sự tái tưới máu thành công nhánh ĐMV gây nhồi máu sau khi dùng tiêu sợi huyết.

    3.5. Các kỹ thuật cận lâm sàng khác:

    Bệnh nhân nên được chụp x quang lồng ngực tại giường, siêu âm tim qua lồng ngực hay thực quản, chụp cắt lớp vi tính , chụp cộng hưởng từ có thể được thực hiện nếu có điều kiện, cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh lý khác và không được làm chậm trể quá trình can thiệp tái tưới máu động mạch vành.

      Bài viết liên quan

    Tin tức
    Liên kết website
    Thống kê truy cập

      Tổng lượt truy cập: 204.858

      Số lượt online: 002