TIN TỨC
 
GIỜ MỞ CỬA

Thứ hai đến thứ sáu:
16h00 – 19h30

Thứ bảy:  7h30 – 11h00

Xem ngày giờ làm việc trong tháng:   http://khamtimmach.com/index.php/gioi_thieu/28/

ƯU ĐÃI QUA INTERNET

http://khamtimmach.com/index.php/gioi_thieu/42/

& SIÊU ÂM TIM VỚI MÁY PHILIPS AFFINITI 2015

 
TIN MỚI
5/12/2014: NHỊP NHANH KỊCH PHÁT TRÊN THẤT - NGUYÊN NHÂN

NHỊP NHANH KỊCH PHÁT TRÊN THẤT

 1.   MỞ ĐẦU:

        Nhịp nhanh kịch phát trên thất (NNKT TT) là những cơn nhịp nhanh tim do nút xoang hay nút nhĩ thất khởi phát và duy trì,  xuất hiện và chấm dứt đột ngột. Trên điện tim thấy phức bộ hẹp, đều và nhanh, ngoại trừ trường hợp có rung nhĩ và nhịp nhanh nhĩ đa ổ. Nếu có dẫn truyền phụ thì nhịp nhanh có phức bộ rộng.

       NNKP  TT hay gặp trên lâm sàng ở mọi nhóm bệnh nhân do đó điều trị cũng có nhiều khác nhau. Điện sinh lý tim giúp xác định nguyên nhân sinh lý bệnh, đường dẫn truyền, dẫn truyền phụ bất thường, vòng vào lại.

        Biểu hiện lâm sàng của NNKT TT thay đổi nhiều dạng: không triệu chứng hay hồi hộp đánh trống ngực nhẹ đến những triệu chứng nặng nề hơn [1,2,3,4]. NNKT TT có thể gây nên biến chứng nhồi máu cơ tim, suy tim xung huyết, ngất hay đột tử.

       Phân loại: Do điện sinh lý tim phát triển ghi lại hoạt động điện trong tim đã làm thay đổi sự phân loại của NNKT TT một cách sâu sắc. Tùy theo vị trí nguồn gốc có thể phân loại thành nhịp nhanh nhĩ hay nhịp nhanh nhĩ thất. Cách khác phân biệt nhịp nhanh đều hay không đều.

       Nhịp nhanh nhĩ được chia thành:

  • Nhịp nhanh xoang
  • Nhịp nhanh xoang không thích hợp
  • Nhịp nhanh vào lại nút xoang
  • Nhịp nhanh nhĩ
  • Nhịp  nhanh nhị đa ổ
  • Flutter nhĩ
  • Rung nhĩ

Nhịp nhanh nhĩ thất bao gồm:

  • Nhịp nhanh nút nhĩ thất vào lại
  • Nhịp nhanh vào lại nhĩ thất
  • Nhịp nhanh lạc vị bộ nối
  • Nhịp nhanh không kịch phát bộ nối

2.   NGUYÊN NHÂN

      Nhịp nhanh trên thất và nhịp nhanh kịch phát trên thất được khởi phát bởi cơ chế vòng vào lại. Điều này có thể khởi động do nhịp nhĩ sớm hay ngoại tâm thu thất. Những cơ chế khởi phát khác đó là cường giáp, chất kích thích , caffein, rượu hay thuốc.

NHKT TT không chỉ xảy ra ở người bình thường mà còn có thể xảy ra ở người tiền căn nhồi máu cơ tim, sa va 2 lá, thấp khớp, viêm màng ngoài tim, viêm phổi, thấp khớp, bệnh phổi mãn tính hay ngộ độc rượu [ 7,8,9,10] , ngộ độc digoxin [9,10, 11]

2.1  Loạn nhịp nhanh nhĩ:

2.1.1    Nhịp nhanh xoang:

     Nhịp nhanh xoang là rối loạn thường gặp nhất  trong những trường hợp nhịp nhanh đều trên thất, thường do đáp ứng sinh lý gắng sức hay stress. Đặc trưng bởi nhịp nhanh hơn 100 lần / phút, đều với sóng p trước QRS

     Các tình trạng đáp ứng sinh lý do stress như thiếu oxy, giảm thể tích máu, sốt, đau  , mệt mỏi, vận động [12,13], atropin, salbutamol,  cocain, amphetamines, ecstasy, hydralazine. Điều trị trị tùy theo nguyên nhân.

2.1.2    Nhịp nhanh xoang không thích hợp:

     Nhịp nhanh xoang không thích hợp là tình trạng nhịp nhanh xoang mà không có những stress sinh lý. Trong tình trạng này, những người khỏe mạnh có nhịp tim bình thường lúc nghĩ cao và nhanh nhiều hơn dù có vận động rất nhỏ, thường gặp ở những phụ nữ trẻ mà không có bệnh tim về cấu trúc gì [10, 14, 15].

     Cơ chế bệnh lý là do quá nhạy cảm của nút xoang đối với những kích thích  tự động hay những bất thường bên trong nút xoang và / hay kích thích tự động . Có sóng p trước QRS và chẩn đoán bằng cách loại trừ

2.1.3    Nhịp nhanh tim do vào lại nút xoang

      Thường lầm lẫn với nhịp nhanh xoang , do vòng vào lại tại nút xoang hay gần nút xoang. Vì vậy bắt đầu và kết  thúc bất ngờ, nhịp thường 100 – 150 lần phút, sóng p trước QRS. [14,15,10]

2.1.4    Nhịp nhanh nhĩ:

      Loạn nhịp xuất phát từ cơ nhĩ. Tăng tính tự động, vòng lại lại hay hoạt động khởi phát dẫn đến loạn nhịp trên. Nhịp thường nhanh từ 120-250 lần/ phút. Sóng p có hình dạng khác nhau và tùy theo vị trí khởi phát.

      Do loạn nhịp không liên quan đến nút nhĩ thất  nên các thuốc ức chế nút  như adenosin,  verapamil không có hiệu quả trong những trường hợp này. Thường gặp do ngộ độc digoxin

2.1.5    Nhịp nhanh nhĩ đa ổ:

      Loạn nhịp xuất phát từ cơ nhĩ, có nhiều hơn 3 dạng sóng p trên ecg. Loạn nhịp này rất hiếm, thường gặp ở bệnh nhân già có bệnh phổi mãn tính. Nhịp tim thường lớn hơn 100 lần/phút. Điện tim thường có  dấu hiệu đặc trưng nhịp không đều, có thể lầm với rung nhĩ. Điều trị bao gồm điều chỉnh các bệnh cơ bản, verapamil và magie có thể có hiệu quả.

2.1.6    Flutter nhĩ:

      Nhịp nhanh tim xuất phát trên nút nhĩ thất có tần số nhĩ từ 250-350 lần phút. Cơ chế là do vòng vào lại. Đặc trưng flter nhĩ ngược chiều kim đồng hồ do vòng vào lại lớn nhĩ phải. Thường gặp ở những bệnh nhân có các tình trạng sau:

  • Bệnh tim thiếu máu
  • Nhồi máu cơ tim
  • Bệnh cơ tim
  • Viêm cơ tim
  • Nhồi máu phổ
  • Ngộ độc rượu
  • Chấn thương ngực

      Flutter nhĩ có thể chỉ là một tình trạng tạm thời có thể dẫn đến rung nhĩ về sau. Điện tim đặc trưng hình răng cưa âm fluuter ở chuyển đạo II, III và aVF. Dẫn truyền nhĩ thất thường là 2:1, cho nên đáp ứng thất khoảng 150 lần/phút.

2.1.7    Rung nhĩ:

      Là rối loạn nhịp thường gặp nhất do tái cực hỗn loạn ở nhĩ. Nhịp nhĩ thường 300-600 lần / phút, nhịp thất khoảng 170 lần hoặc hơn. Điện tim đặc trưng bởi sóng nhĩ không đều và lăn tăn.

Các nguyên nhân thường gặp:

  • Thấp tim
  • Cao huyết áp
  • Bệnh tim thiếu máu
  • Viêm màng ngoài tim
  • Cường giáp
  • Ngộ độc rượu
  • Sa van 2 lá và các bệnh van 2 lá
  • Ngộ độc digoxin

      Khi rung nhĩ xuất hiện ở bệnh nhanh trẻ hay trung niên mà không có bệnh tim thì có thể gọi là rung nhĩ vô căn.

2.2  Nhịp nhanh nhĩ thất

2.2.1    Nhịp nhanh vào lại nút nhĩ thất  ( AVNRT)

      Một trong những nguyên nhân thường gặp nhất của nhịp nhanh kịch phát trên thất là nhịp nhanh vào lại nút nhĩ thất (AVNRT). AVNRT được chẩn đoán với tỷ lệ 50-60% những bệnh nhân nhịp nhanh đều với phức bộ QRS hẹp và thường trên những người lớn hơn 20 tuổi [3,23,24,25]. Nhịp tim thường là 120-250 /phút.

      AVNRT có thể xảy ra ở người trẻ tuổi, khỏe mạnh, thường là phụ nữ. Hầu hết bệnh nhân không có bệnh tim, đôi khi xảy ra trên bệnh nhân bị thấp tim, sa van 2 lá, viêm cơ tim, hay hội chứng kích thích sớm.

      Hiểu biết về điện sinh lý nút nhĩ thất thì rất quan trọng hiểu cơ chế AVNRT. Trong hầu hết bệnh nhân, nút nhĩ thất chỉ có 1 đường dẫn duy nhất dẫn truyền xung động trước để khử bó His. Trong vài trường hợp, nút nhĩ thất có 2 đường dẫn truyền với chức năng điện sinh lý riêng biệt. Đường alpha dẫn truyền chậm với khoảng trơ ngắn, trong khi đương beta dẫn truyền nhanh khoảng trơ dài.

      Sự tồn tại đồng thời 2 còn đường chức năng khác nhau này tạo nền tảng cho nhịp nhanh với vòng vào lại [3,23,24,9]. Nghiên cứu chứng minh được 40% bệnh nhân  có 2 đường dẫn truyền nút nhĩ thất.

      Khởi phát AVNRT là xung động sớm của nhĩ. Xung động này đến nút nhĩ thất khi con đường nhanh beta vẫn còn trơ của xung động trước, nhưng con đường chậm anpha có thể đón nhận được và dẫn truyền theo kiểu trước, trong khi con đường nhanh đang dần hồi phục do khả năng hồi phục chậm của mình.

      Sau khi xung được dẫn truyền theo đường trước bởi con đường chậm  anpha, nó có thể nhận thấy đường nhanh beta hồi phục hoàn toàn. Xung động lúc này được dẫn truyền theo đường sau bằng nhánh  nhanh beta. Nếu con đường chậm anpha được tái cực đúng lúc xung động hoàn tất dẫn truyền ngã sau qua con đường nhanh beta, xung có thể được vào lại con đường chậm anpha và bắt đầu gây nên nhịp nhanh vào lại nút nhĩ thất AVNRT.

      Quan trọng là AVNRT không liên quan đến thất do vòng vào lại, sự cần thiết của mô xung quanh nút nhĩ thất của vòng này vẫn đang còn bàn cải. Bởi vì xung đặc trưng được dẫn truyền bằng đường trước qua nhánh chậm và đường sau qua nhánh nhanh , khoảng PR dài hơn, vì vậy bệnh nhân có sóng P thường ở phần cuối của sóng QRS [3,23,11,24]

       Ở những bệnh nhân AVNRT không điển hình, nhánh trước dẫn truyền qa con đường nhanh và nhánh sau dẫn truyền qua con đường chậm. Với những bệnh nhân này khoảng RP dài hơn khoảng PR [24, 23,26, 25, 3, 9, 27,11]

2.2.2    Nhịp nhanh vào lại nhĩ thất (AVRT)

       Nhịp nhanh vào lại nhĩ thất AVRT là dạng thường gặp khác của cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất. Tỷ lệ gặp trong dân số 0.1 – 0.3%. Nam gặp nhiều hơn nữ (tỷ lệ 2:1), bệnh nhân AVRT thường trẻ hơn AVNRT. AVRT có thể gặp trong bệnh Epstein, mặc dù hầu hết bệnh nhân không có bất thường về cấu trúc tim.

      AVRT xuất hiện do có nhiều hơn 2 đường dẫn truyền ; đặc biệt : nút nhĩ thất và  1 hay nhiều đường tắt bypass. Ở người bình thường, chỉ có 1 con đường xuất hiện: bắt đầu từ nút xoang, lan truyền đến nút nhĩ thất, đến bó His và mạng lưới của nó. Tuy nhiên trong AVRT, có 1 hay nhiều đường phụ dẫn truyền từ nhĩ xuống thất. Những con đường này dẫn truyền phụ này theo ngã trước hay ngã sau hoặc cả 2 [28,29, 24, 30, 31, 32, 9 , 10].

      Khi xung đi xuống theo con đường phụ bằng ngã trước, gây ra thất kích thích sớm, khoảng cách PR ngắn và xuất hiện sóng delta gây nên hội chứng WPW. Điều quan trọng cần ghi nhận là không phải tất cả các nhánh phụ sẽ được dẫn truyền theo ngã trước, những đường phụ ẩn không hiện hiện trong khi nhịp xoang, và nó chỉ có thể dẫn truyền bằng ngã sau.

      Vòng vào lại thường nhất được tạo thành bởi xung di chuyển bằng ngã trước qua nút nhĩ thất và ngã sau bởi các đường dẫn truyền phụ, được gọi là orthodromic AVRT

      Vòng vào lại được tạo thành từ xung động sớm di chuyển ngã trước bằng những nhánh phụ và bằng ngã sau qua nút nhĩ thất thì được gọi là antidromic AVRT. Trong khi orthodromic AVRT đặc trưng bởi phức bộ nhịp nhanh tim hẹp, thì antidromic AVRT nhịp nhanh tim rộng có hình kỳ quái.

      Bệnh nhân WPW có thể phát triển rung nhĩ hay fltter nhĩ. Sự dẫn truyền nhanh qua các con đường phụ có  thể dẫn đến nhịp cực nhanh và thoái biến thành rung thất và đột tử. Những bệnh nhân có hội chứng kích thích sớm và rung nhĩ  không  được sử dụng các tác nhân ức chế nút nhĩ thất, vì các tác nhân này có thể thúc đẩy dẫn truyền nhanh hơn nữa qua các đường phụ, có thể gây nên rung thất và tử vong. [36,37, 7,33,38,8, 39]

2.2.3    Nhịp nhanh ngoại tâm thu bộ nối (JET) và nhịp nhanh bộ nối không kịch phát (NPJT):

      Nhịp nhanh ngoại tâm thu bộ nối  JET hay nhịp nhanh bộ nối không kịch phát thì hiếm gặp, có thể xuất hiện là do tăng tính tự động, kích hoạt hay cả hai. Thường xuất hiện sau mổ van tim, sau nhồi máu cơ tim, sau viêm tim do thấp hay ngộ độc cơ tim. Nhịp nhanh này có thể xuất hiện ở trẻ em sau phẫu thuật tim bẩm sinh. Điện tim cho thấy QRS hẹp đều dù sóng P có thể không nhìn thấy. 

 

NHỮNG TIN TỨC KHÁC

» 27/9/2015: RƯỢU VÀ SUY TIM (BÁO TUỔI TRẺ)
» 20/3/2015: BS ĐẸP THAM DỰ HỘI NGHỊ TIM MẠCH HOA KỲ ACC 2015 & TẬP HUẤN SỬ DỤNG MÁY SIÊU ÂM PHILIPS AFFINITI
» 22/1/2015: CÂN LÂM SÀNG NHỊP NHANH KỊCH PHÁT TRÊN THẤT
» 19/1/2015: NHỊP NHANH KỊCH PHÁT TRÊN THẤT: DỊCH TỂ - TIÊN LƯỢNG - THĂM KHÁM - PHÂN BIỆT
» 14/11/2014: ĐIỀU TRỊ THUỐC SAU TÁI TƯỚI MÁU NMCT STc
» 7/11/2014: ĐIỀU TRỊ KHÁNG TIỂU CẦU PHỐI HỢP TRONG NMCT STc
» 28/10/2014: NMCT STc: CHIẾN LƯỢC ĐIỀU TRỊ TÁI TƯỚI MÁU
» 27/10/2014: ĐIỀU TRỊ NHỒI MÁU CƠ TIM ST CHÊNH
 
KỸ THUẬT CHẨN ĐOÁN
 

THE BEAUTY HEART CLINIC

162 Nguyễn Thiện Thuật. Phường 3, Quận 3, Tp Hồ Chí Minh

CCHN Y:0001831/HCM-CCHN         GPHĐ KB-CB:03758/SYT-GPHĐ

Email: beautyheartclinic@gmail.com  - Website : www.khamtim.com

Bản quyền © 2011 thuộc về THE BEAUTY HEART CLINIC
Thiết kế và phát triển bởi PA Vietnam
  Chat yahoo:
Hotline : 0988752725