TIN TỨC
 
GIỜ MỞ CỬA

Thứ hai đến thứ sáu:
16h00 – 19h30

Thứ bảy:  7h30 – 11h00

Xem ngày giờ làm việc trong tháng:   http://khamtimmach.com/index.php/gioi_thieu/28/

ƯU ĐÃI QUA INTERNET

http://khamtimmach.com/index.php/gioi_thieu/42/

& SIÊU ÂM TIM VỚI MÁY PHILIPS AFFINITI 2015

 
TIN MỚI
14/11/2014: ĐIỀU TRỊ THUỐC SAU TÁI TƯỚI MÁU NMCT STc

9. ĐIỀU TRỊ SAU TÁI TƯỚI MÁU:

9.1 ỨC CHẾ HỆ RENI – ANGIOTENSIN - ALDOSTERONE.

          Ức chế men chuyển ACE trong 24 giờ đầu cho những bệnh nhân sau tái tưới máu là hợp lý khi không có chống chỉ định và bệnh nhân có huyết động ổn định. Bệnh nhân có phân xuất tống máu EF hơn 45% và không có dấu hiệu của suy tim, hở van hai lá nặng hay cao huyết áp có thể chấm dứt liệu trình điều trị sau khi đánh giá nguy cơ trong khi vẫn nằm viện nội trú. Captopril có thời gian bán hủy ngắn nhất nên điều trị quá liều hay hạ huyết áp do thuốc có thể được điều chỉnh dễ dàng. Thêm nữa, bán hủy ngắn cho phép chỉnh liều nhanh hơn. Không cần truyền tĩnh mạch ức chế men chuyển trừ khi bệnh nhân không uống được. Thời gian điều trị chưa được xác định rõ.

          Ức chế thụ thể Angiotensin ARB phải được sử dụng cho những bệnh nhân có chỉ định nhưng không dung nạp với ức chế ACE

          Kháng  aldosterone phải được sử dụng cho những bệnh nhân NMCT STc không có chống chỉ định, đã được điều trị với ức chế ACE và ức chế beta và có EF < 40% có triệu chứng suy tim xung huyết hoặc tiểu đường.

          Uống ức chế men chuyển làm giảm các biến cố tim mạch tử vong hay không tử vong nặng trên những bệnh nhân NMCT STc. Tác dụng bảo vệ của chúng đã được chứng minh độc lập với các phương pháp điều trị khác như tiêu sợi huyết, aspirin, hay ức chế beta. Hiệu quả lâm sàng tối đa trên nhóm bệnh nhân nguy cơ cao: NMCT thành trước, EF < 40%, suy tim, NMCT củ, hay nhịp nhanh tim. Việc sử dụng đạt hiệu quả tốt nhất trong vòng 24 giờ đầu tiên sau NMCT nếu không có chống chỉ định sử dụng: hạ huyết áp, dị ứng thuốc, hẹp động mạch thận 2 bên, suy thận. 

          Vai trò của việc sử dụng ức chế men chuyển thường quy kéo dài cho những bệnh nhân NMCT STc có nguy cơ thấp đã được tái lưu thông máu và dùng hạ mỡ máu chưa được xác định rõ ràng.

          Nghiên cứu EPHESUS xác định hiệu quả của đối kháng aldosterol , eplerenone, cho những bệnh nhân có creatinin < 2.5 mg% ở nam và < 2 mg% ở nữ, K < 5 mEq/L trong khoảng 3 đến 14 ngày sau NMCT STc khi EF < 40% với dấu hiệu của suy tim hoặc của tiểu đường, thì thấy rằng khi sử dụng eplerenone trước 7 ngày sẽ giảm đáng kể tỷ lệ tử vong của mọi nguyên nhân như đột tử do tim mạch hay tử vong liên quan đến tim mạch trong quá trình nằm viện, trong khi dùng sau 7 ngày sẽ không có kết quả gì hết.

9.2 ỨC CHẾ BETA

          Ức chế beta nên được điều trị cho những bệnh nhân NMCT STc trong vòng 24 giờ đầu tiên bằng đường uống và kéo dài trong suốt quá trình điều trị.

Những bệnh nhân dưới đây không được sử dụng: có dấu hiệu suy tim, cung lượng tim thấp, nguy cơ shock tim, PR dài hơn 24 giây, block nhỉ thất độ II – III, hen hay COPD. Những bệnh nhân này cần được đánh giá lại khả năng sử dụng ức chế beta sau đó.

Có thể truyền tĩnh mạch ức chế beta ngay lần đầu tiên, hiệu quả và an toàn của điều trị sớm và truyền tĩnh mạch liên tục này đã được chứng minh qua nghiên cứu COMMIT/ CCS-2. Truyền tĩnh mạch sớm metoprolol sau đó duy trì liều cao đường uống có tác dụng trung hòa trên mục đích điều trị cuối cùng: tử vong, NMCT tái phát, hay ngưng tim. Có tỷ lệ thấp hơn về NMCT tái phát và VF, kết quả chung thì cân bằng vì  tỷ lệ tăng cao đáng kể shck tim trong nhóm sử dụng metoprolol đặc biệt ở ngày 0 và ngày thứ 1. Nguy cơ xuất hiện shock tim nhiều nhất trong nhóm bệnh nhân > 70 tuổi, HA  < 120 mmHg, nhịp tim > 110.

Hiệu quả phòng ngừa thứ phát của ức chế beta đã được nhiều nghiên cứu thực hiện đặc biệt đối những bệnh nhân suy tim, rối loạn chức năng thất trái, hay loạn nhịp thất. Thời gian điều trị thường quy ức chế beta cho những bệnh nhân NMCT không biến chứng, không có suy tim hay cao huyết áp  được đề nghị là 3 năm. 

9.3 ĐIỀU CHỈNH MỠ MÁU:

          Liệu pháp sử dụng statin liều cao cho tất cả những bệnh nhân NMCT STc. Phải kiểm tra lượng mỡ máu bệnh nhân lúc đói trong vòng 24 giờ đầu NMCT

          Điều trị statin cho nhân ổn định sau hội chứng mạch vành cấp giúp hạ thấp nguy cơ tử vong do bệnh mạch vành, NMCT tái phát, đột quỵ hay sự cần thiết tái lập lưu thông mạch vành. Statin với liều cao giúp giảm hơn nữa những kết cục lâm sàng. Trong nhóm statin hiện tại, chỉ có atorvastatin 80mg giúp giảm tỷ lệ tử vong và biến chứng thiếu máu ở bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp. Mặc dù hiệu quả của statin liều cao khác nhau giữa các nhóm trong việc hạ LDL cholesterol, việc sử dụng statin vẫn được khuyến cáo sử dụng ngay cả khi LDL < 70 mg%.

          Statin ngoài chức năng phòng ngừa thứ phát bệnh mạch vành như hạ LDL cholesterol còn có chức năng cải thiện chức năng nội mạc mạch máu, chống kết dính tiểu cầu và giảm viêm

9.4 NITRATES

          Nitrate làm giảm triệu chứng đau ngực và dấu hiệu của thiếu máu do giảm tiền tải thất trái, gia tăng dòng chảy mạch vành, nhưng nitrate không làm giảm đi tổn thương cơ tim khi động mạch thượng tâm mạc bị nghẽn trừ khi có sự co thắt mạch đi kèm và đóng góp vai trò quan trọng. Truyền tĩnh mạch nitroglycerin rất có lợi khi cho những bệnh nhân NMCT só STc kèm với cao huyết áp hay suy tim. Nitrate không được thực hiện khi có dấu hiệu hạ huyết áp, nhịp tim chậm hay nhanh đáng kể, NMCT thất phải. Nitrate uống không có vai trò trong điều trị thường quy khi NMCT hồi phục

9.5 ỨC CHẾ KÊNH CANXI

          Tổng kết 28 nghiên cứu so sánh ngẫu nhiên có kiểm chứng trên 19,000 bệnh nhân thấy rằng không có giảm kích thước vùng nhồi máu hay tỷ lệ nhồi máu tái phát khi sử dụng ức chế kênh canxi khi sử dụng trong giai đoạn cấp tính hay hồi phục của NMCT STc. Tuy nhiên, ức chế kênh canxi cũng có hiệu quả làm giảm thiếu máu, hạ huyết áp, hay điều chỉnh nhịp thất trong những trường hợp rung nhĩ mà bệnh nhân không sử dụng được ức chế beta. Chú ý trong trường hợp bệnh nhân bị suy chức năng thất trái. Không được sừ dụng ức chế kênh canxi phóng thích nhanh nifedipine cho NMCT STc vì gây hạ huyết áp và cường giao cảm phản xạ gây nhịp nhanh.

9.6 THUỐC ASPIRIN

          Sử dụng aspirin bắt đầu ngay khi bắt đầu điều trị NMCT STc và tiếp tục sau đó với liều 75 – 162 mg/ngày. Bệnh nhân dị ứng với aspirin phải điều trị với clopidogrel 75 mg/ ngày

9.7 THIENOPYRIDINES

          Thienopyridine, ticlopidine hay clopidogrel phải được thêm vào với aspirin cho những bệnh nhân đã được đặt stent mạch vành. Thời gian tối thiểu sử dụng tùy thuộc vào loại stent, với stent kim loại thì sử dụng tối thiểu 30 ngày, trong khi stent phủ thuốc thì phải sử dụng ít nhất 1 năm.

9.8 CHỐNG ĐAU MORPHIN

          Khi không có những phản ứng quá mẩn, morphin sulfate được lựa chọn điều trị giảm đau cho bệnh nhân NMCT STc, đặc biệt cho những bệnh nhân có quá trình bệnh phức tạp như phù phổi cấp. Morphine có thể làm giảm gánh nặng khi thở, giảm lo âu, và cải thiện tình trạng tiền tải. Liều morphin đủ tác dụng giảm đau thì thay đổi theo tuổi, cân nặng, nhịp tim và huyết áp. Khi quá liều morphin có thể sử dụng Naloxone để hóa giải với liều 0.1 – 0.2 mg IV mỗi 15 phút, và atropine 0.5 – 15 mg IV có thể sử dụng điều trị chậm nhịp do morphin.

 

NHỮNG TIN TỨC KHÁC

» 27/9/2015: RƯỢU VÀ SUY TIM (BÁO TUỔI TRẺ)
» 20/3/2015: BS ĐẸP THAM DỰ HỘI NGHỊ TIM MẠCH HOA KỲ ACC 2015 & TẬP HUẤN SỬ DỤNG MÁY SIÊU ÂM PHILIPS AFFINITI
» 22/1/2015: CÂN LÂM SÀNG NHỊP NHANH KỊCH PHÁT TRÊN THẤT
» 19/1/2015: NHỊP NHANH KỊCH PHÁT TRÊN THẤT: DỊCH TỂ - TIÊN LƯỢNG - THĂM KHÁM - PHÂN BIỆT
» 5/12/2014: NHỊP NHANH KỊCH PHÁT TRÊN THẤT - NGUYÊN NHÂN
» 7/11/2014: ĐIỀU TRỊ KHÁNG TIỂU CẦU PHỐI HỢP TRONG NMCT STc
» 28/10/2014: NMCT STc: CHIẾN LƯỢC ĐIỀU TRỊ TÁI TƯỚI MÁU
» 27/10/2014: ĐIỀU TRỊ NHỒI MÁU CƠ TIM ST CHÊNH
 
KỸ THUẬT CHẨN ĐOÁN
 

THE BEAUTY HEART CLINIC

162 Nguyễn Thiện Thuật. Phường 3, Quận 3, Tp Hồ Chí Minh

CCHN Y:0001831/HCM-CCHN         GPHĐ KB-CB:03758/SYT-GPHĐ

Email: beautyheartclinic@gmail.com  - Website : www.khamtim.com

Bản quyền © 2011 thuộc về THE BEAUTY HEART CLINIC
Thiết kế và phát triển bởi PA Vietnam
  Chat yahoo:
Hotline : 0988752725